“Đọc thơ Hồ Chí Minh” của Lê Xuân Đức
Với tư cách là một nhà giáo, tôi tiếp cận "Đọc thơ Hồ Chí Minh" – Tác phẩm vừa được giải thưởng của cuộc thi sáng tác về chủ đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Ban Bí thư TW Đảng phát động, và tìm được từ những trang sách của Lê Xuân Đức nhiều điều bổ ích.
Hiểu sâu sắc hơn quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh
Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh là một trong những kiến thức cơ bản của chương trình văn học phổ thông. Về vần đề này, sách giáo khoanhấn mạnh 5 quan điểm của Bác về các vấn đề: bản chất của hoạt động sáng tác văn học; chức năng của nhà văn nhà thơ; coi trọng đối tượng phục vụ của văn học; tác phẩm văn học phải chân thật, đậm đà tính dân tộc, tính nhân dân; trong sáng tác phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Học sinh Trung học cơ sở học 6 bài thơ của Bác (Tức cảnh Pác Bó; Ngắm trăng, Đi đường; Rằm tháng riêng, Tin thắng trận); lên Phổ thông trung học, các em học thêm bài Chiều tối... Vỉ thế, chúng tôi rất tâm đắc khi theo dõi Lê Xuân Đức trình bày quan điểm sáng tác thơ của Hồ Chí Minh. “Khác một số nhà thơ, Hồ Chí Minh nói về thơ bằng những bài thơ, câu thơ”.
Đoạn sau được coi là phép thống kê đầy đủ và chính xác về một vần đề quan trọng của chương trình Văn học phổ thông: "15 bài thơ của Bác nói về quan điểm thơ, về những vấn đề liên quan đến thơ. Trong đó, Nhật kí trong tù có 7 bài: Khai quyển, Vọng nguyệt, Tảo giải, Bất miên giả, Thu dạ, Khán "Thiên gia thi" hữu cảm", Kết luận.
Thơ Chữ Hán (ngoài Ngục trung nhật kí) có 5 bài: Báo tiệp, Tặng Bùi Công, Hoàng Sơn nhật kí (kì tứ), Nhị vật, và ba bài thơ tiếng Việt: Thư trung thu - 1951, Chúc mừng năm mới - 1951, Không đề" (trang 13). Từ bài Khai quyển - mở đầu tập Ngục trung nhật kí (sáng tác năm 1942) đến bài thơ tiếng Việt : "Không đề" (3 -1968), qua nhiều cứ liệu thuyết phục, Lê Xuân Đức đã trình bày rất sâu sắc các vấn đề "quan niệm của Bác về thơ, công việc làm thơ, những vấn đề liên quan đến thơ, trách nhiệm của nhà thơ... làm thế nào để xây dựng một nền thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống...". Đó là nội dung mà bất cứ học trò nào cũng quan tâm.
Không hài lòng với những lời hướng dẫn trong sách giáo viên ("Suốt đời Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn...Mọi ham muốn khác người đều quyết dẹp đi hết. Cho nên tuy thích làm thơ - ở đây là thơ nghệ thuật (thích nên khi cần giải trí mới giải trí bằng thơ), Người cũng "không ham". Bốn tháng đầu, hoàn toàn không có điều kiện hoạt động các mạng, nên buồn bực quá, người đành phải làm thơ cho khuây khỏa (vì thế, Đặng Thai Mai mới cho rằng sự ra đời của Nhật kí trong tù như một câu chuyện vạn bất đắc dĩ), các nhà giáo sẽ tìm thấy từ "Nay ở trong thơ" những lời giải thích giản dị, mà đầy tính thuyết phục "Bất đắc dĩ thiên về gò ép, là việc làm không tự giác thì làm sao có thơ được". Lê Xuân Đức nhấn mạnh "Bác không có chủ định làm thơ, càng không có ý định làm thơ để trở thành nhà thơ... Trong ngục tù, Bác không biết làm gì, đành Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật (Tạm mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài) và chỉ còn cách nghêu ngao, vắn tắt ghi lại sinh hoạt của người tù cho khuây khỏa thế thôi". Rõ ràng "thơ đến với Bác và chuyện Bác làm thơ là tự nhiên, như là một sự ngẫu nhiên mà lại rất tự nhiên vậy"
Tiến thêm một bước nữa, Lê Xuân Đức nêu vấn đề Bác "viết để làm gì và viết cho ai ?" Câu trả lời cho hai nội dung trên được tìm thấy ngay trong các bài thơ của Bác:
Trung thu trăng sáng như gương
Bác Hồ ngắm cảnh nhớ thương nhi đồng
Sau đây Bác viết mấy dòng
Gửi cho các cháu tỏ lòng nhớ nhung
(Thư Trung thu - 1951)
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài
(Tặng Bùi Công)
Với Nhật kí trong tù, Bác cũng nói rõ: viết để tiêu khiển, cho qua ngày dài... viết cho bản thân, một mình mình đọc, vừa ngâm vừa đợi.... Từ những suy nghĩ rất đúng trên đây, Các nhà giáo có thể nêu thêm nhiều câu hỏi:
- Tại sao Hồ Chí Minh viết Nhật kí bằng thơ chữ Hán ?
- Tại sao trong hoàn cảnh "sống khác loài người", Hồ Chí Minh vẫn giữ được cuốn Nhật kí trong tù qua 18 nhà giam và trên quãng đường bị giải dài trên 1200 km ?
Từ đó chúng tôi cho rằng “ngâm ngợi cho khuây” chưa hẳn đã là mục đích duy nhất của Hồ Chí Minh khi viết Nhật kí trong tù. Người không chỉ thụ động "đợi đến ngày tự do" mà còn biết dùng thơ để thúc đẩy ngày đó đến nhanh hơn. Hồ Chí Minh viết nhật kí bằng chữ Hán là để các thế lực giam giữ Người có thể đọc được. Càng về cuối, chúng ta càng thấy, Nhật kí trong tù hướng tới nhiều đối tượng khác nhau. Viết Nhật kí trong tù, Hồ Chí Minh còn nhằm khẳng định người bị bắt oan, người chỉ là một lão phu yêu nước, đại biểu của một dân tộc đứng về phía đồng minh chống phát xít, đế quốc. Không ít bài thơ Nhật kí trong tù ca ngợi mặt tốt của một số quan chức tỉnh Quảng Tây... Suy cho cùng, các bài thơ Nhật kí trong tù đều nhằm mục đích phục vụ cách mạng... Ở Hồ Chí Minh, nghệ thuật và chính trị luôn luôn thống nhất không thể tách rời.
Khi thì trực tiếp dành một số bài, khi thì gián tiếp qua một số vần thơ... quan điểm sáng tác thơ của Hồ Chí Minh kết tinh trong ba bài : “Khai quyển”, Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”,“Không đề’... Tác giả Lê Xuân Đức rất đúng khi coi đó là những tuyên ngôn về thơ của Bác. Từ các suy nghĩ của Lê Xuân Đức, ở các lớp chuyên văn hoặc nâng cao, các nhà giáo sẽ có một đề văn mở đủ để học sinh phát huy sức sáng tạo : Qua các bài thơ “Khai quyển”, Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”, “Không đề’... anh hay chị hãy trình bày những hiểu biết của mình về quan điểm sáng tác thơ của Hồ Chí Minh”
Một cách phân loại thơ Hồ Chí Minh hơp lí, khoa học, phù hợp với học sinh phổ thông
Lâu nay, trong trường phổ thông vẫn tồn tại nhiều cách phân loại thơ văn Hồ Chí Minh. Mỗi cách phân loại có ưu điểm, hạn chế riêng... Căn cứ và mục đích sáng tác, người ta chia thơ văn Hồ Chí Minh thành thơ văn tuyên truyền, thơ văn nghệ thuật. Với tập Nhật kí trong tù, Ngữ văn 11 cũng nêu ra nhiều cách phân chia; đáng chú ý là cách chia theo thời gian trước sau thời điểm Bác Hồ bị bắt 4 tháng và chia theo 4 đề tài (phê phán những hiện tượng ngang trái trong nhà tù và xã hội Trung Quốc; nỗi niềm tậm sự nhà thơ; giãi bày về việc bi bắt oan; những bài thơ thù tiếp).
Chưa hài lòng với cách phân chia trên đây, tôi tìm thấy “Nay ở trong thơ” những cách phân loại thơ Hồ Chí Minh hợp lí, phù hợp với đặc trưng thơ.
Hai mươi ba bài thơ viết về việc Bác bị giải từ nhà lao này sang nhà lao khác là một phát hiện đáng chú ý của Lê Xuân Đức. Từ đó ông chỉ rõ: “Các chí sĩ yêu nước: Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng..., Những chiến sĩ công sản Trần Huy Liệu, Sóng Hồng, Lễ Đức Thọ, Xuân Thủy, Tố Hữu... đều trải qua các nhà tù, đã viết nên nhiều bài thơ (...) nhưng ít ai ghi lại được cái sự thực thường nhật xảy ra trên đường bị đày ải, bị giải, bị chuyển lao.” Nắm vững các bài thơ thuộc đề tài này, học sinh sẽ hiểu sâu hơn bức chân dung tinh thần tự họa của Hồ Chí Minh.
Trào phúng là một trong những đặc điểm nổi bật của phong cách thơ văn Hồ Chí Minh. Với “Nhật kí trong tù”, lần đầu tiên, qua Chương trình Ngữ văn, nâng cao, học sinh được tiếp cận với bài Lai Tân. Nhưng một số thầy cô giáo cho rằng: Lai Tân chưa tiêu biểu cho bút pháp trào phúng của Bác. Vì thế nhiều người đồng tình với Lê Xuân Đức khi ông phân tích ba bài thơ có hình ảnh Rồng trong bài viết “Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay”. Chùm thơ này làm nổi bật bút pháp trào phúng và cổ điển của thơ Hồ Chí Minh. Sử dụng những hình tượng gắn liền với đời sống tinh thần Á Đông, lối triết tự quen thuộc của thơ trung đại, Hồ Chí Minh đã tạo nên tiếng cười thâm thúy, rất trí tuệ, hiện đại:
Qua cơn hoạn nạn rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn
Nhà lao mớ cửa, ắt rồng bay.
(Nam Trân dịch)
Qua tiêu đề “Trèo lên đỉnh núi này”, lúc đầu tôi cứ tưởng Lê Xuân Đức, phân tích bài Thướng sơn (Lên núi) - ngthường lấy tứ thơ của Hồ Chí Minh đặt tên cho các tiêu đề bài viết. Nhưng không - Trong bài viết này, ngoài những tư liệu mới về hoàn cảnh sáng tác bài Thướng sơn, Lê Xuân Đức đã khéo léo kết hợp phân tích cả chùm thơ có “thi đề “đăng sơn” (“đăng sơn giao vọng”; “đăng sơn hữu cảm”; “đăng sơn ức hữu”). Đó là các bài thơ: “Thướng sơn” (1942). “Tân xuất ngục, học đăng sơn” (1943), “Đăng sơn” (1950). Lâu nay lời thơ dịch (Lên đỉnh núi này chơi) đã khiến cho bao lớp thầy trò hiểu lầm ý thơ của Bác. Qua bài viết của Lê Xuân Đức, chúng ta biết “Bác đã tự tay viết bài thơ trên lên vách đá núi Lũng Dẻ sau khi chuyển cơ quan ngày 24 tháng 6. Cuộc lên núi lần này hẳn là khác thường, Bác ghi lại giây phụt đột hứng khi ở trên đỉnh cao.
“Cử đầu hồng nhật cận
Đối ngạn nhất chi mai”
Với ba bài thơ có chung đề tài “thướng sơn”, giáo viên, học sinh có thêm tư liệu để hiểu rất sâu bút pháp vừa cổ điển vừa hiện đại của thơ Bác Hồ.
Cũng với cách thẩm thơ trên đây, bài“Sáo thu bỗng vọng, vang rừng núi” phân tích có tình có lí hình ảnh tiếng sáo trong bài thơ : “Nạn hữu xuy địch, Hoàng hôn”, “Thu dạ”.Nhiều bài thơ được khởi hứng từ tiếng sáo để biểu hiện một nỗi lòng, một tâm trạng, cảnh ngộ thái độ (Tỳ bà hành, Long thành cầm giả ca, Tiếng sáo thiên thai...) Đối chiếu với các tuyệt phẩm trên đây, nhà phê bình Lê Xuân Đức đã phát hiện ra “tiếng sáo trong thơ Bác đem đến cái mới cho văn học, đó là tiếng sáo của người trong cuộc mang nỗi buồn và niềm vui, sự khổ đau chiến thắng của một người và cũng là của nhiều người”.
“Tiếng sáo của Bác là tiếng sáo của chính cuộc đời thực mà thành thơ, chẳng phải hư cấu, tưởng tượng gì, chẳng phải gia công nghệ thuật, bản thân nó đã là thơ”.
Theo cách tiếp cận riêng biệt độc đáo, Lê Xuân Đức tìm hiểu 9 bài thơ có hình ảnh con thuyền (Thuyền về trời đã rạng đông) 6 bài thơ có nói đến rượu (Chúng ta cùng uống một chung rượu đào)... Tôi khâm phục tác giả “Nay ở trong thơ” ở các trang viết về hoa trong thơ Bác Hồ (Mỗi đóa hoa vàng một điểm xuân). Lê Xuân Đức rất đúng khi phát hiện “Bác Hồ là người trận trọng, nâng niu, tiếp thu tinh hoa và làm giàu thêm cái đẹp của thơ, 23 chữ hoa trong hai mươi bài thơ Bác viết về hoa hoặc mượn hình ảnh hoa để nói về cái đẹp của đời sống là một bằng chứng.”
Hình như, qua “Một đóa hoa vàng, một điểm xuân”, Lê Xuân Đức muốn viết những trang từ điển về hoa trong thơ Bác Hồ. Ông chỉ rõ ngoài những bài thơ nói đến hoa với nghĩa tượng trưng, thơ Bác chủ yếu nói đến hoa thiên nhiên “hoa hồng, hoa mai, hoa vàng, hoa nở, hoa cười, hương hoa, xuân hoa, hoa đầy lối, hoa đầy núi...”. Đi sâu vào việc phân tích các bài thơ tiêu biểu về hoa, Lê Xuân Đức cho bạn đọc thấy vẻ đẹp “thấm đượm tình người, thấm đượm ý nghĩa nhân sinh. Hoa cùng với tâm hồn Bác tạo nên những vần thơ vừa rất mực cổ điển mà vẫn hiện đại.
Những cảm nhận mới, sâu sắc đối với nhiều bài thơ của Bác trong Chương trình Văn học phổ thông
Gần nửa thế kỉ nay, bài Tẩu lộ (Đi đường), trước sau vẫn có mặt trong sách Ngữ văn trung học cơ sở, nhưng cách phân tích, cảm thụ hầu như không có gì thay đổi. Thầy, cô giáo nào cũng yêu cầu học sinh ghi nhớ; “Đi đường là một bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc, mang ý nghĩa tư tưởng sâu sắc; từ việc đi đường núi đã gợi ra chân lí đường đời: vượt qua gian lao chồng chất sẽ tới thắng lợi vẻ vang”. Với thi pháp đọc thơ Bác, Lê Xuân Đức đặt bài Tẩu lộ vào hệ thống các bài Thu dạ, Tức cảnh, Mới ra tù, tập leo núi...
Trong mối liên hệ với “Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ” (Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ), “Tổ quốc trung niên vô tin tức” (Năm tròn cố quốc tăm hơi vắng), “Dao vọng Nam thiên ức cố nhân” (Trông về cố quốc chạnh lòng nhớ ai), Lê Xuân Đức đã giúp ban đọc nói chung và các nhà giáo nói riêng một cách cảm nhận mới về bài Tẩu lộ. Bắt đầu bằng việc giải thích: “Vạn lí dư đồ” (non sông muôn dặm); “cố” (quay đầu nhìn lại); “cố miện gian” (khoảng không gian nhìn thấy khi quay đầu lại), ông kết luận: “Cụm từ cố miên gian từ lâu trong văn học cổ đã được dùng để chỉ mối tình cố quốc, tha hương... “ Từ cách cảm nhận trên đây, Lê Xuân Đức khẳng định chủ đề bài thơ là “Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, tình thế nào, tình yêu Tổ quốc vần luôn thường trực tâm trí Bác. Chính vì Tổ quốc mà Bác đã vượt qua muôn vàn gian lao nguy hiểm làm việc vì nước vì dân.”
Tôi đã đọc, viết nhiều bài bình về thi phẩm Mộ (Chiều tối), vậy mà các trang viết của Lê Xuân Đức về bài thơ này vẫn có sức hấp dẫn lạ thường. Hai câu kết “không có chữ vui mà vẫn vui, cũng như hai câu đầu không có chữ buồn mà vẫn buồn... Buồn vui là ở con người tỏa vào cảnh vật, tỏa vào câu thơ”. Có thể coi: cấu trúc tả (hai câu đầu) – kể (hai câu cuối); “Những từ bao túc ( ngô), ma bao túc (xay ngô)... là từ của đời thường, hơn nữa còn là tiếng địa phương Quảng Tây”; hai câu kết không hề tả “mà ta cứ hình dung cô gái hiện ra với cả đường nét, hình khối khỏe khoắn uyển chuyển, sống động, đẹp và đáng yêu biết bao”... là những phát hiện có giá trị của Lê Xuân Đức khi bình bài Chiều tối.
Với hàng loạt công trình nghiên cứu về thơ Hồ Chí Minh, nhà phê bình Lê Xuân Đức xứng đáng được tôn vinh là chuyên gia hàng đầu về tư tưởng, văn hóa Hồ Chí Minh.