Nữ Tiến sĩ một đời trăn trở với văn hóa dân gian
Lẽ ra chị có tên là Phạm Hữu Mỹ Duyên, nhưng vì là con thứ thất nên mang họ mẹ. Sinh ra ở thị trấn Cai Lậy, 4 tuổi đã lên sân khấu ca bài Lưu thuỷ hành vân, Tam pháp nhập môn; 5 tuổi ca được Ngựa Ô Nam, Ngựa Ô Bắc, Lý Tâm thất, Lý Giao duyên; 6 tuổi biết ca bản Vọng cổ nhịp 32, 12 câu Phụng hoàng; 8 tuổi ca được 3 bản Nam, Giang Nam, Bình sa lạc nhạn,... qua ngón đờn kìm của cha là nghệ nhân Ba Thế, còn gọi là soạn giả Thế Hữu hay Bầu Thế.
Ông Thế đã bán hàng chục mẫu đất thừa kế để lập gánh cải lương Sống chung (ông tên thật là Phạm Hữu Thế, cháu nội ông Phạm Hữu Hằng tức Bộ Ninh - người nổi tiếng về tài ăn nói). Cuộc đời ông tuy có bao sự thăng trầm nhưng cây đờn kìm vẫn trên tay ông cho đến lúc nhắm mắt. Năm 2006, Mai Mỹ Duyên đã tặng cây đờn 150 tuổi ấy cho Viện Bảo tàng Lịch sử Việt
Biết cha mẹ không muốn con nối nghiệp cầm ca, chị đã cố gắng học tập. Năm 1982, chị tốt nghiệp Đại học Văn hóa (ngành Văn hóa quần chúng ở Hà Nội; năm 1997 bảo vệ thành công luận văn Thạc sĩ văn hóa với đề tài "Đờn ca tài tử ở Tiền Giang". Năm 2007, chị bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ văn hóa với đề tài "Đờn ca tài tử trong đời sống văn hoá của dân cư miền Tây
Hành trình đi tìm tri thức
Mùa lũ năm 1978, Mai Mỹ Duyên giã biệt quê nghèo trong cơn mưa tầm tã, trên đầu đội mấy quyển tập và hai cuốn sách "Giương cao ngọn cờ CNXH" của chú Tư Thông - Phó Phòng Văn hóa thông tin Cai Lậy cho. Trên đầu mưa như trút nước, dưới chân nước lũ dâng cao quá ngực, bì bõm bên cạnh chị là người mẹ sớm già trước tuổi, bởi tần tảo sớm khuya. Má đội cái túi sờn, đựng chiếc mền cũ vá ba chỗ, hai bộ đồ bà ba và mười hai đồng bạc. Đó là tất cả " tài sản" má có được để cho con gái lên đường vào đại học.
Hà Nội năm ấy rét như cắt da, áo quần đem theo không đủ ấm, Duyên quấn luôn chiếc mền cũ lên giảng đường. Má biết được, bán hai công đất ruộng trả nợ, dành lại ít tiền gửi cho con gái bộ đồ và một gói chuối ngào đường. Nghèo thế mà bọn trộm cũng chẳng buông tha! Đồ đạt, áo quần bị chúng dọn sạch. Bạn học sáng cho mượn áo mặc, tối cho đắp chung mền. Nhưng chẳng lẽ cứ mặc "đồ khính" bạn hoài, nghĩ vậy Duyên nhờ các anh xin bao đựng đồ tiếp tế nhu yếu phẩm cho bộ đội Tiền Giang chiến đấu ở biên giới phía Bắc (thứ vải dày như bao bồng bột, được ngành Thương nghiệp thời bao cấp duyệt mua 8m mỗi khi gia đình nào có đám tang, vậy là chị thức liền mấy đêm tháo ra, tự cắt quần áo rồi may tay để mặc. Thuốc nhuộm xanh lè, mỗi lần giặt dính đầy tay rửa không ra. Thấy chị không đủ áo ấm, anh Nguyễn Đắc Hỷ (nguyên Phó Giám đốc Nhà Văn hóa Tiền Giang, lúc đó đang học Đại học Văn hóa Hà Nội trên chị một khóa) cho biết: "Anh có cái áo ruột bông của anh bạn học chung, ảnh về Nam bị bệnh chết rồi. Duyên dám mặc anh đưa!". Chị đem chiếc áo cáu bẩn về giặt sạch (đó là chiếc lỏi áo bông thô dùng mặc lót bên trong áo khoác cho ấm), nhờ chiếc áo ấy mà qua được 4 mùa đông giá lạnh.
Nhờ vào biên chế trước khi đi học, Duyên được lãnh học bổng mỗi tháng là 36 đồng. Mặc dù hết sức tiện tặn, nhưng vẫn không đủ trang trải, chị và người bạn cùng phòng cùng ăn chung một suất lương thực, còn một suất đem bán, chia nhau mua đồ dùng học tập. Lúc ấy, một tô phở cũng là món xa xỉ của đời sinh viên.
Những ngày chủ nhật, Duyên rủ bạn đi khiêng gạch mướn,...nhưng chỉ khi thiếu công nhân Duyên mới có việc làm. Những năm đó ở quê lũ, lụt mất mùa, nhà lại nghèo, má không có tiền gởi cho chị. Mỗi năm sinh viên miền
Nặng tình với văn hóa dân gian
Khi hỏi, vì sao chị lại nặng tình với nghệ thuật văn hóa dân gian? Chị nói rằng vì tuổi thơ của chị may mắn được sống gần với người mẹ hết mực thương chồng con và người cha luôn xem nghệ thuật như là lẽ sống. Ông đã cho chị vốn hiểu biết và lòng đam mê nhạc tài tử, cải lương. Những lần theo cha đờn cho bà bóng múa, rồi những đám cúng đình, những đám giỗ, đám cưới,... ở quê, tất cả đã ăn sâu trong tiềm thức của chị. Nó lớn dần trong chị và chị yêu nó như yêu chính bản thân mình.
Sau này, khi có cơ hội tìm hiểu sâu về nghệ thuật dân gian, càng thấy giá trị của nó thì càng thôi thúc trong lòng chị phải tìm cách khôi phục và lưu giữ". Nghĩ là làm! Chị tổ chức các cuộc liên hoan "Giai điệu quê hương" (hát dân ca, ru con Nam bộ), Hò cấy, Nhạc Lễ tang, lễ hội "cô Tấm"..., các trò chơi dân gian, liên hoan ẩm thực dân gian, liên hoan nghệ thuật múa bóng rỗi, liên hoan đờn ca tài tử ,...để văn hóa dân gian được tôn vinh và trân trọng.
Năm 1997, được sự chỉ đạo của Ban Giám đốc Sở Văn hoá - Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch), chị với tư cách quản lý nghiệp vụ và nhà nghiên cứu đã kết hợp với Viện Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam thực hiện và hoàn thành nhiều công trình nghiên cứu văn hóa dân gian như: Lễ giỗ các họ người Việt ở Tiền Giang, Hò cấy Gò Công, lễ hội Kỳ yên, Nghệ thuật đờn ca tài tử, Các món bánh dân gian Nam bộ, Kiểng cổ Tiền Giang, Mắm còng lột Phú Thạnh,... Say mê nghiên cứu, chị đã dành thời gian, kể cả ngày nghỉ, cùng với những đồng nghiệp của mình miệt mài đi xuống tận xã - ấp để thực hiện những chuyến điền dã, khảo sát, điều tra và sưu tầm. Có cụ Trương Văn Nghĩa 90 tuổi - nghệ nhân hò cấy nổi tiếng của Tân Tây - Gò Công nghe tin chị xuống thăm, cụ đã chống gậy đi từ nhà ra Ủy ban xã gần 5 cây số để hò cho chị nghe. Ông cảm động rơi nước mắt khi biết có người còn quan tâm đến câu hò, mà từ lâu, nó đã không còn hiện diện trên đồng ruộng quê hương!
Mỗi lần xuống cơ sở, chị thường tìm đến các nghệ nhân, thăm hỏi sức khoẻ, lắng nghe nghệ nhân tâm tình, kể lể, chia sẻ với họ những nỗi buồn lo trước xu thế xa rời nguồn cội văn hóa và những khát vọng về một tương lai phục hồi giá trị cổ truyền. Chị yêu tiếng đàn, lời ca chân quê của nghệ nhân đờn ca tài tử, mê tay nghề khéo léo của những nghệ nhân làm bánh, chưng nghi, múa bóng rỗi,... Chị sợ tất cả sẽ bị mai một, mất đi, cho nên chị đã làm những việc gì mình có thể làm, để bảo tồn và phát huy, chớ không chỉ vì trách nhiệm. Việc làm của chị đã được Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phối hợp hỗ trợ và chính quyền địa phương cũng như tất cả nghệ nhân trong tỉnh đồng lòng ủng hộ.
Người Tiền Giang còn biết chị qua nhiều chương trình lễ hội đại chúng. Với giọng dẫn chương trình rành mạch, truyền cảm, với những kịch bản sân khấu hóa giàu hình tượng, như: Đường ta đi tới (kỷ niệm 30 năm ngày 30/4/2005); Hào khí Sông Tiền (220 năm Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút - 2005); Gò Công hồng trang sử (40 năm Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 2008); Con cháu Rồng Tiên (Lễ giỗ Quốc tổ Hùng Vương 2008); Mỹ Tho khát vọng vươn lên (330 năm Mỹ Tho Đại phố - 2009); Những trang sử vẻ vang (65 năm thành lập ngành Công an nhân dân - 2010)...
Khán giả truyền hình trong và ngoài nước còn biết chị qua các chương trình giới thiệu về văn hóa
Chị như anh nông dân cần mẫn không thể đếm được mồ hôi cho những đường cày trên mảnh đất quê hương. 31 năm với ngành Văn hóa Tiền Giang, bạn bè đồng nghiệp quen thấy chị làm việc không phân biệt thứ bảy hay chủ nhật. Suốt ngần ấy thời gian, từ một cán bộ bình thường đến khi trở thành Trưởng phòng Nghiệp vụ văn hóa, chị chưa hề đòi hỏi phải có một sự biệt đãi nào về vật chất hay cương vị xã hội.
Người yêu nhạc Trịnh không thể quên câu hát: "Sống trong đời sống cần có một tấm lòng...", nói theo kiểu Việt