Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển
     
Hôm nay, 28/04/2017
Trang chủ 
Giới thiệu 
Tin tức - sự kiện 
ĐH đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XII 
Hoạt động Hội 
Hệ thống văn bản hoạt động Hội 
Đọc và suy ngẫm! 
Cuộc thi viết "Dọc đường công tác Hội" 
Tiếng nói của nữ đại biểu 
Phụ nữ trên các lĩnh vực 
Luật pháp, chính sách 
Hoạt động phổ biến pháp luật 
Xây dựng luật pháp, chính sách 
Chủ trương, chính sách của Đảng 
Luật pháp chính sách của Nhà nước 
Giới và phát triển 
Gương Phụ nữ 
Giải thưởng cho phụ nữ 
Quốc tế 
Gia đình 
Văn hoá - Nghệ thuật 
Tư liệu 
Thông báo 
Tìm kiếm

Trang t­u lieu
nu tri thuc
van ban xin y kien
MTTQ
Website PN Việt Nam ở nước ngoài

Bạn là người truy cập thứ:
61113279

LUẬT PHÁP, CHÍNH SÁCH
Một số chính sách có liên quan đến phụ nữ theo quy định của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo
Cập nhật: 04/03/2017

Thể chế hóa các quy định của Hiếp pháp 2013 về quyền con người, trong đó có quyền con người trong lĩnh vực tự do tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 18 tháng 11 năm 2016, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 2 thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Luật gồm 09 chương, 8 mục, 68 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, thay thế cho Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo số 21/2004/UBTVQH11.

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của Việt Nam có Luật quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; trách nhiệm của tổ chức và cá nhân trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo…. Đồng thời, Luật tín ngưỡng, tôn giáo cũng là dấu mốc đáng ghi nhận trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta, trong đó thể hiện đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ đối với lĩnh vực này.

Cụ thể, Luật đã quy định một số chính sách có liên quan đến phụ nữ trong lĩnh vực tự do tín ngưỡng, tôn giáo như sau:

1. Quyền tự do tín ngưỡng

Theo quy định tại Điều 6, mọi công dân không phân biệt phụ nữ hay nam giới, đều có quyền tự do tín ngưỡng: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng quy định, mỗi người (không phân biệt phụ nữ hay nam giới) có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo hoặc học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

Trường hợp phụ nữ hoặc nam giới là người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.

2. Quyền Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về tín ngưỡng, tôn giáo

Điều 63 quy định rõ về quyền Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi công dân không phân biệt là nam hay nữ, trên cương vị nhiệm vụ của mình trong cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể: “Người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ và các tổ chức, cá nhân khác có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật có liên quan”.

Đối với cá nhân, để thực hiện quyền công dân của mình, điều 63 cũng quy định rõ: Cá nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.

3. Nghĩa vụ cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Cá nhân, không phân biệt nam giới hay phụ nữ, khi tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đều phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật. Điều 9 Luật Tín ngưỡng tôn giáo đã quy định về nghĩa vụ của cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Đối với chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện dù là nam giới hay phụ nữ đều phải có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật.

4. Người đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng

Nam giới hay phụ nữ đều có thể trở thành người đại diện hoặc thành viên Ban quản lý cơ sở tín ngưỡng. Tuy nhiên, điều kiện để được công nhận là người đại diện hoặc thành viên Ban quản lý cơ sở tín ngưỡng đã được quy định cụ thể tại Điều 11 như sau: “Người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có uy tín trong cộng đồng dân cư”.

5. Quy định về phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định tại Điều 32 “Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thực hiện việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử theo hiến chương của tổ chức tôn giáo”.

Luật cũng quy định rõ tại Điều 32 Khoản 2, người được phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử mặc dù không phân biệt nam nữ nhưng phải đáp ứng những yêu cầu sau: có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.

6. Nghiêm cấm phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo nghiêm cấm phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường hoặc xâm hại đạo đức xã hội, xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác...(Điều 5).

7. Xử lý cá nhân vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo

Cũng như tổ chức, nếu cá nhân bất kể là nam giới hay phụ nữ khi có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo đều bị xử lý theo mức độ vi phạm. Điều 64 quy định như sau:

“1. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định của Luật này và Luật xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức phạt cụ thể và thẩm quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm hành chính; chế độ áp dụng các biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo.”

8. Xử lý cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo khi thi hành công vụ

Pháp luật thể hiện rõ sự nghiêm minh đối với cán bộ, công chức thi hành nhiệm vụ trên các lĩnh vực. Đối với lĩnh vực quản lý về tín ngưỡng, tôn giáo, Điều 65 quy định việc xử lý cán bộ, công chức vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo khi thi hành công vụ như sau:

“Cán bộ, công chức có hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo khi thi hành công vụ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm sau đây:

1. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái quy định của Luật này và pháp luật có liên quan;

2. Thiếu trách nhiệm trong quản lý để xảy ra vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;

3. Vi phạm quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.”

Theo: TTPN (HM)

In trang Gửi tới bạn Đầu trang  Gửi phản hồi

 
Các tin khác:
Các tin tiếp theo ››  
 

"... Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta...

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch uỷ ban hành chính, bí thư chi bộ....

Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng..."

(Trích bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/1966).

Tin mới
 • Chung tay đẩy lùi vấn nạn xâm hại trẻ em
 • Phụ nữ tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới
 • Tăng cường hợp tác với Hội Phụ nữ Campuchia
 • Trao giải cuộc thi viết “Dọc đường công tác Hội”
 • Hạnh phúc và lợi ích của phụ nữ là mục tiêu hoạt động của Hội LHPN Việt Nam
DH XII
tuduc
HVPN
TTPN
TYM
LTR

For Advertise

 

Bản quyền thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Địa chỉ:39 Hàng Chuối - Hà Nội - Việt Nam ; Điện thoại:9713436 -  Fax: (84-4) 9713143; Email: ;Website:
http://hoilhpn.org.vn

canada goose outlet parajumpers canada goose uk outlet canada goose parkas