Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển
     
Hôm nay, 23/05/2013
Trang chủ 
Giới thiệu 
Tin tức - sự kiện 
Hoạt động Hội 
Hệ thống văn bản hoạt động Hội 
Vận động thành lập Hiệp hội nữ doanh nhân 
Phụ nữ trên các lĩnh vực 
Luật pháp, chính sách 
Giới và phát triển 
Gương Phụ nữ 
Giải thưởng cho phụ nữ 
Quốc tế 
Gia đình 
Văn hoá - Nghệ thuật 
Tư liệu 
Hồ sơ Đại hội PN toàn quốc 
Hồ sơ thành tích 
Cán bộ nữ 
Phong trào Phụ nữ Ba đảm đang 
Những phụ nữ huyền thoại 
Diễn đàn 
Có thể bạn chưa biết! 
Thông báo 
Tìm kiếm

gop y sua doi hp
Lam theo guong HCT
Hoc vien PN
Mai am tinh thuong
Trang t­u lieu

Bạn là người truy cập thứ:
29922805

TƯ LIỆU
Dự thảo đề cương chi tiết: Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Hội LHPN Việt Nam khóa X tại Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI
Cập nhật: 09/05/2011

* Phần mở đầu (không thành đề mục)

- Đại hội phụ nữ toàn quốc lần thứ XI diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng toàn dân đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến 2020.

- Đất nước sau 25 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

- Bình đẳng giới ngày càng được coi trọng trên bình diện toàn cầu. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới: hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới được hoàn thiện; nhận thức xã hội về bình đẳng giới, về vai trò phụ nữ trong sự nghiệp CNH - HĐH có chuyển biến tích cực; phụ nữ có ý thức và nhu cầu cao hơn về các quyền cơ bản, quyền bình đẳng nam - nữ.

- Đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, biến đổi khí hậu dẫn đến thiên tai, dịch bệnh ngày càng nhiều và bất thường; kinh tế phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh thấp; phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng, tình trạng thiếu việc làm, tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, suy thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi; định kiến giới còn tồn tại dưới nhiều hình thức...

PHẦN THỨ NHẤT

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHỤ NỮ VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2007 - 2012

I.ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH PHỤ NỮ

- Lao động nữ tiếp tục đóng góp tích cực, hiệu quả vào thành tựu phát triển kinh tế của đất nước, chiếm tỷ lệ cao trong các ngành kinh tế mũi nhọn như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, các ngành chế biến, xuất khẩu[1]tham gia ngày càng nhiều hơn vào khu vực kinh tế chính thức[2]. Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý tăng lên trong khu vực doanh nghiệp và kinh tế hộ gia đình[3]. Các doanh nghiệp do phụ nữ quản lý tạo được nhiều công ăn việc làm cho lao động nữ, đóng góp tích cực vào các hoạt động nhân đạo.

- Phụ nữ đóng góp đáng kể vào phát triển văn hóa, xã hội của đất nước[4]. Sức khỏe phụ nữ tiếp tục được cải thiện, tuổi thọ đạt 75,6 tuổi[5]; tỷ lệ phụ nữ có thai được khám thai trên 3 lần tăng (trên 86%).

- Học sinh nữ, sinh viên nữ chiếm xấp xỉ 52%, thủ khoa là nữ thường chiếm số đông trong các kỳ thi tuyển sinh và tốt nghiệp; hiện tượng trẻ em gái bỏ học sớm đã được cải thiện. Đội ngũ nữ trí thức tiếp tục tăng về số lượng và chất lượng, chiếm 1/3 tổng số trí thức, có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật đem lại lợi ích kinh tế - xã hội trên nhiều lĩnh vực.

- Phụ nữ chủ động tham gia vào hoạt động chính trị ở các cấp, các ngành và cộng đồng; tích cực thực hiện các quyền công dân, tham gia vào các hình thức dân chủ trực tiếp ở địa phương[6]. Phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo, quản lý tăng ở một số lĩnh vực, tăng nhiều hơn ở cấp huyện và cấp cơ sở[7]; ngày càng nâng cao về chất lượng.

- Phụ nữ ngày càng được nâng cao nhận thức, kiến thức về luật pháp, chính sách, về xã hội, gia đình; phát huy vai trò quan trọng trong tổ chức cuộc sống gia đình, nuôi dạy con, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa, các giá trị đạo đức của dân tộc, truyền thống của gia đình.

Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam đang đứng trước không ít khó khăn, thách thức:

- Chất lượng lao động nữ còn thấp so với chất lượng bình quân chung của lực lượng lao động cả nước. Tỷ lệ nữ trí thức trong số người có bằng cấp sau đại học còn thấp. Số đông lao động nữ chưa qua đào tạo nghề, làm việc ở những ngành nghề không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, thu nhập thấp, điều kiện lao động không đảm bảo, việc làm thiếu ổn định. Vấn đề việc làm của lao động nữ ở khu vực nông thôn, khu vực chuyển đổi mục đích sử dụng đất chưa được giải quyết. Đời sống của một bộ phận phụ nữ, đặc biệt nhóm phụ nữ yếu thế, phụ nữ di cư tự do, phụ nữ dân tộc thiểu số… còn nhiều khó khăn.

- Phụ nữ và trẻ em gái chiếm số đông trong số người không biết đọc, biết viết[8].Công tác xóa mù chữ cho phụ nữ ở lứa tuổi từ 15 đến dưới 40 ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Phụ nữ ít có điều kiện tham gia và thụ hưởng các hoạt động văn hóa, thông tin. Mức độ tiếp cận dịch vụ y tế, nước sạch của phụ nữ vùng sâu, vùng xa, phụ nữ di cư còn nhiều hạn chế; chị em còn gặp nhiều vấn đề trong chăm sóc sức khỏe sinh sản; tỷ lệ tử vong bà mẹ giảm chưa nhiều.

- Tỷ lệ cán bộ nữ, đảng viên nữ còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp của phụ nữ. Sự tham gia của phụ nữ trong hoạch định chính sách ở một số lĩnh vực còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn, dẫn đến thực hiện bình đẳng giới chưa đạt kết quả.

- Một bộ phận phụ nữ thiếu hiểu biết về luật pháp, chính sách, hạn chế về nhận thức chính trị nên còn bị kẻ xấu lôi kéo.

- Trong gia đình, tư tưởng trọng nam khinh nữ ở nhiều nơi còn phổ biến dẫn đến hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh có dấu hiệu gia tăng. Giá trị đạo đức, truyền thống gia đình bị giảm sút; bạo lực trên cơ sở giới dưới nhiều hình thức vẫn còn là vấn đề nổi cộm; tệ nạn xã hội có xu hướng tăng; dịch vụ gia đình và các phúc lợi xã hội hỗ trợ gia đình và phụ nữ, nhất là phụ nữ nông thôn, còn hạn chế. Phụ nữ chịu nhiều sức ép giữa công việc gia đình với trách nhiệm xã hội và nhu cầu học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp.

II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHONG TRÀO THI ĐUA VÀ NHIỆM VỤ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2007 – 2012

1. Phong trào thi đua Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc được đẩy mạnh, gắn kết chặt chẽ với các phong trào thi đua lớn của đất nước và các nhiệm vụ trọng tâm của Hội, tạo sự chuyển biến về chất lượng.

- Phong trào tiếp tục được các cấp Hội tập trung chỉ đạo, triển khai sâu, rộng hơn và được đổi mới, gắn kết chặt chẽ với thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, qua đó tăng cường được chất lượng, hiệu quả của phong trào.

- Nội dung tiêu chuẩn Phong trào ngày càng được bổ sung toàn diện, cụ thể hơn, phù hợp với nhu cầu của các nhóm phụ nữ, thu hút rộng rãi các tầng lớp phụ nữ tham gia thực hiện. Tỷ lệ hội viên, phụ nữ đăng ký thực hiện và đạt 3 tiêu chuẩn phong trào thi đua hàng năm đạt ở mức cao; đã có trên 14,3 phụ nữ (gần 12 triệu hội viên và trên 2,3 triệu phụ nữ) đăng ký thực hiện phong trào; trong đó có trên 11,3 triệu chị em đạt 3 tiêu chuẩn (trên 10 triệu hội viên và trên 1,3 triệu phụ nữ).

2. Công tác tuyên truyền, giáo dục có bước phát triển về chất, góp phần nâng cao kiến thức, năng lực, trình độ cho phụ nữ.

- Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, đặc biệt là luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình và các chính sách an sinh xã hội được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng. Giáo dục truyền thống, phẩm chất đạo đức, tôn vinh phụ nữ điển hình tiên tiến được chú trọng. Đề án Tuyên truyền giáo dục phẩm chất đạo đức của phụ nữ tạo tiền đề rất quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục của Hội.

- Công tác giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ năng lực cho phụ nữ có chuyển biến tích cực. Phong trào xây dựng tủ sách và phát động cán bộ, hội viên, phụ nữ học tập qua sách báo được các cấp Hội tích cực triển khai, đến cuối nhiệm kỳ đã có …% cơ sở Hội xây dựng được tủ sách của phụ nữ. Các cơ quan truyền thông của Hội (Báo, Xuất bản, Bảo tàng, trang thông tin điện tử…) từng bước đổi mới, nâng cao chất lượng phục vụ; Đề án cấp Báo Phụ nữ miễn phí cho các xã vùng đặc biệt khó khăn được triển khai thực hiện; nhiều cấp Hội quan tâm phối hợp tốt với các cơ quan thông tin đại chúng hình thành chuyên mục về phụ nữ và bình đẳng giới, tổ chức được các sự kiện… làm tăng hiệu quả công tác tuyên truyền và tăng sự tiếp cận của phụ nữ với hoạt động tuyên truyền của Hội.

- Công tác xóa mù chữ cho phụ nữ, cán bộ Hội cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa tiếp tục được Hội triển khai thông qua các mô hình phát động phong trào học chữ, gắn học xoá mù chữ với hỗ trợ vốn vay, hướng dẫn cách làm ăn. Đã có 32.688 hội viên, phụ nữ, 394 uỷ viên BCH Hội LHPN xã trong độ tuổi từ 15 đến 35 được xóa mù chữ (số liệu 2007 – 2010).

-Việc nắm bắt, phản ánh tư tưởng, nguyện vọng, các vấn đề liên quan đến phụ nữ được tiến hành thường xuyên thông qua chế độ đi cơ sở, giao ban, báo cáo định kỳ. Cơ chế nắm tình hình kết hợp với phản ánh và tham gia giải quyết các vấn đề đặt ra được tăng cường; trong đó chú trọng những điểm nóng và vấn đề liên quan đến phụ nữ.

3. Thực hiện tốt hơn chức năng đại diện tham gia đề xuất, xây dựng, giám sát, phản biện xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ.

- Các cấp Hội đã tích cực đề xuất, tham gia xây dựng, đóng góp ý kiến, phản biện xã hội về chính sách, pháp luật. Hội đã còn tham gia tích cực vào việc xây dựng, đóng góp ý kiến các văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Lao động, Luật Cán bộ công chức, Nghị định 19/NĐ-CP, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới đến năm 2020… Một số chính sách đối với phụ nữ do Hội đề xuất đã được phê duyệt và thực hiện, trong đó có chính sách về đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ Hội cấp huyện và cơ sở; chính sách hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm; chính sách hỗ trợ người mẹ nâng cao kiến thức, kỹ năng nuôi dạy con; chính sách mới về tuổi nghỉ hưu đối với cán bộ nữ cấp thứ trưởng và tương đương…

- Công tác giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách được các cấp Hội tổ chức thực hiện có trọng tâm. Hội đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng giám sát việc thực hiện Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Nghị quyết số 11 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ, Nghị định 19 của Chính phủ về tạo điều kiện để các cấp Hội tham gia quản lý nhà nước; giám sát việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội… Qua giám sát, các cấp Hội đã phát hiện một số vi phạm hoặc bất cập trong thực hiện, kiến nghị các cơ quan chức năng giải quyết đạt kết quả.

- Hoạt động tư vấn pháp luật, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của phụ nữ theo thẩm quyền và hòa giải ở cơ sở đạt hiệu quả tốt hơn. Nhiều cấp Hội kịp thời nắm bắt thông tin, phản ánh và phối hợp với cơ quan chức năng giải quyết các vụ khiếu kiện đông người, có tính chất phức tạp. Ở cơ sở, cán bộ Hội tham gia có hiệu quả, trách nhiệm cao trong các tổ hòa giải, góp phần hòa giải thành công nhiều vụ việc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Các cấp Hội tăng cường phối hợp với ngành Tư pháp tổ chức tư vấn lưu động giúp cho nhiều hội viên, phụ nữ được tiếp cận với hoạt động tư vấn pháp luật.

- Các cấp Hội chủ động, tích cực tham mưu công tác cán bộ nữ, đặc biệt là cán bộ nữ tham gia cấp uỷ, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp từ khâu quy hoạch, tham mưu tỷ lệ nữ, giới thiệu nhân sự, tham gia hiệp thương, tổ chức các hoạt động hỗ trợ nữ ứng cử viên… theo tinh thần Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị và Luật Bình đẳng giới (kết quả nữ tham gia cấp uỷ, Quốc hội, HĐND).

Hội LHPN cấp cơ sở làm tốt việc phát hiện, giới thiệu quần chúng ưu tú cho cấp uỷ Đảng bồi dưỡng, xem xét kết nạp, góp phần đưa số đảng viên nữ được kết nạp mới đạt 39,62% tổng số đảng viên mới kết nạp.

- Công tác nghiên cứu làm cơ sở khoa học đề xuất chính sách và đề ra chủ trương công tác Hội được quan tâm chỉ đạo và đầu tư nhiều hơn, tập trung chủ yếu vào các vấn đề gia đình, kinh tế, lao động việc làm, công tác cán bộ nữ, nội dung, phương thức hoạt động và tổ chức Hội.

4. Hoạt động hỗ trợ phụ nữ thoát nghèo, phát triển kinh tế ngày càng đa dạng, thiết thực và hiệu quả hơn.

- Công tác hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo đã được Hội chỉ đạo tập trung nâng cao về chất lượng nhằm giúp phụ nữ thoát nghèo bền vững. Các cấp Hội hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo bằng nhiều biện pháp, trọng tâm là hỗ trợ vốn vay kết hợp với hướng dẫn cách làm ăn và giúp xây dựng, sửa chữa nhà ở dột nát. Nhiều mô hình sáng tạo giúp phụ nữ nghèo hiệu quả đã được xây dựng và phát triển tại cộng đồng. Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau phát triển kinh tế”, “Mái ấm tình thương”, “Thực hành tiết kiệm theo gương Bác” đã thực sự đem lại hiệu quả to lớn trong việc giúp phụ nữ nghèo, đồng thời khơi dậy mạnh mẽ truyền thống tương thân, tương ái. Hàng năm có khoảng 400.000 hộ nghèo được Hội giúp giảm nghèo, trong đó gần 20% số hộ đã thoát nghèo.

- Các nguồn vốn hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng được các cấp Hội đầu tư huy động và tổ chức thực hiện với số lượng vốn tăng mạnh trong 5 năm qua. Đến năm 2011, các cấp Hội cả nước đã quản lý khoảng 50 ngàn tỉ đồng, giúp hơn 6 triệu lượt phụ nữ được vay vốn, trong đó chủ yếu là phụ nữ nghèo và cận nghèo.

- Xuất phát từ nhu cầu vốn vay phát triển sản xuất, kinh doanh của phụ nữ nghèo và cận nghèo, hoạt động tài chính vi mô của Hội đã sớm hình thành và phát triển theo hướng bền vững. Một số chương trình tài chính vi mô của Hội ở Trung ương và địa phương được củng cố, hoạt động theo hướng chuyên nghiệp. Quỹ Tình thương chính thức trở thành tổ chức tài chính quy mô nhỏ đầu tiên trong cả nước được cấp phép. Mô hình cho vay gián tiếp và nâng cao năng lực cho các tổ chức tài chính vi mô trong hệ thống Hội đang được thí điểm thực hiện. Đó là cơ sở thực tiễn để Hội xây dựng chiến lược phát triển tài chính vi mô trong giai đoạn tới.

- Hoạt động hỗ trợ phụ nữ sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng được gắn kết giữa hỗ trợ vốn vay với tập huấn nghề và kỹ năng kinh doanh. Mô hình chia sẻ chi phí trong hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh doanh đã bước đầu được áp dụng thành công trong hệ thống Hội, tạo điều kiện kết nối giữa Hội với các cơ sở dịch vụ chuyên nghiệp trong hỗ trợ phát triển kinh doanh.

- Hoạt động hỗ trợ doanh nhân nữ tập trung vào việc nâng cao năng lực, tổ chức diễn đàn vận động chính sách, kết nối mạng lưới, khen thưởng và tôn vinh. Hệ thống CLB doanh nhân nữ tiếp tục được mở rộng, nhiều CLB đã phát triển thành Hội và Hiệp hội doanh nhân nữ hoạt động như các tổ chức xã hội nghề nghiệp. Đến giữa nhiệm kỳ, có 39 CLB doanh nghiệp nữ cấp tỉnh/thành và 450 CLB cấp huyện/quận với 15.651 thành viên.

-Hoạt động dạy nghề tiếp tục phát triển và bước sang giai đoạn mới với Đề án hỗ trợ học nghề và tạo việc làm cho phụ nữ giai đoạn 2010 – 2015:

Hệ thống cơ sở dạy nghề và giới thiệu việc làm của các cấp Hội được củng cố, phát triển. Mạng lưới các cơ sở dạy nghề và giới thiệu việc làm của Hội được quy hoạch thống nhất trong hệ thống cơ sở dạy nghề chung của cả nước.

Dạy nghề cho lao động nữ ở nông thôn được tập trung triển khai, đạt nhiều kết quả. Lao động nữ vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phụ nữ khuyết tật là đối tượng được đặc biệt quan tâm.

Dạy nghề có chứng chỉ được tăng cường. Số lượng, chất lượng đội ngũ quản lý và giáo viên chuyên trách tăng. Một số loại hình nghề mới phù hợp với nhu cầu thị trường và lao động nữ đã được nghiên cứu, biên soạn giáo trình và áp dụng. Phương thức đào tạo nghề tiếp tục được tổ chức linh hoạt, đa dạng, trong đó điểm mới là dạy nghề gắn với thực hành nghề và tư vấn, giới thiệu, hỗ trợ việc làm. Số lao động nữ được các cấp Hội đào tạo nghề hàng năm vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra.

5. Tập trung đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; hoạt động đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện được mở rộng.

-Công tác hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình được các cấp Hội coi trọng, tích cực đổi mới phương thức nhằm tăng tính thiết thực, hiệu quả. Ngoài các hoạt động hỗ trợ gia đình dưới hình thức tham gia thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, Hội đã xây dựng đề án nhằm hỗ trợ người mẹ nâng cao nhận thức, kiến thức, kỹ năng và thay đổi hành vi nuôi dạy con khoa học.

- Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” với nội dung thiết thực, toàn diện, hướng mục tiêu hoạt động của Hội vào đơn vị gia đình và phát huy vai trò phụ nữ, đã được các cấp Hội và hội viên phụ nữ cả nước hưởng ứng, góp phần thiết thực thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.

-Dịch vụ gia đình đã được một số cấp Hội quan tâm thực hiện thí điểm. Một số mô hình truyền thông xây dựng gia đình có hiệu quả đã được Hội sơ kết, nhân rộng, nổi bật là mô hình CLB xây dựng gia đình hạnh phúc.Các mô hình phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội được tiếp tục triển khai, gắn giữa tuyên truyền, phát hiện với giáo dục, hỗ trợ hòa nhập cộng đồng.

- Công tác tư vấn, hỗ trợ hôn nhân gia đình từng bước được đẩy mạnh thông qua một số mô hình: Trung tâm tư vấn pháp luật, Trung tâm hỗ trợ kết hôn, Ngôi nhà bình yên, Địa chỉ tin cậy tại cộng đồng và các mô hình CLB, sinh hoạt nhóm…

- Công tác hậu phương quân đội, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo từ thiện tiếp tục thu được nhiều kết quả, có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Trong nửa nhiệm kỳ, các cấp Hội đã vận động, tặng tiền, quà trị giá 171 tỷ đồng cho gia đình chính sách; hỗ trợ xây dựng mới và sửa chữa hàng chục ngàn ngôi nhà cho phụ nữ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; ủng hộ lương thực, quần áo, vật dụng thiết yếu cho đồng bào bị ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt…

6. Nội dung, phương thức hoạt động của Hội được tiếp tục đổi mới; tổ chức bộ máy từng bước được kiện toàn; năng lực tổ chức Hội ngày càng được nâng lên

- Ban chấp hành, Đoàn Chủ tịch TW Hội tập trung chỉ đạo nghiên cứu, định hướng và triển khai thực hiện đổi mới nội dung, phương thức hoạt động đạt kết quả bước đầu. Chủ trương đổi mới của Hội đã đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của phụ nữ; góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước; phát huy được sự chủ động, sáng tạo của các cấp Hội và nội lực của hội viên, phụ nữ.

- Bộ máy tổ chức các cấp Hội được kiện toàn, đội ngũ cán bộ Hội chuyên trách các cấp được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, cơ bản đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch, Ban Thường vụ hoạt động theo quy chế, đảm bảo nguyên tắc tập trung, dân chủ. Công tác lập kế hoạch, thông tin, báo cáo thực hiện nề nếp hơn.

- Các cấp Hội tiếp tục tập trung củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động cơ sở Hội; tăng cường các biện pháp thu hút, tập hợp hội viên; chú trọng xây dựng các mô hình phù hợp với các nhóm đối tượng (phụ nữ cao tuổi, nữ thanh niên, phụ nữ di cư); tập trung phát triển hội viên theo hộ gia đình; xây dựng và phát huy vai trò của hội viên nòng cốt. Đến giữa nhiệm kỳ, tỷ lệ hộ gia đình có ít nhất 1 hội viên đạt 69,99%, trong đó có 23 tỉnh/thành đạt tỷ lệ từ 80% trở lên; tỷ lệ thu hút hội viên cả nước đạt 66,16% tổng số phụ nữ từ 18 tuổi trở lên. Công tác thu nộp hội phí được thực hiện nghiêm túc; việc cấp thẻ hội viên được triển khai tại hầu hết các tỉnh/thành Hộitrong cả nước giúp tăng cường quản lý hội viên.

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh, theo yêu cầu công việc được coi trọng, đạt hiệu quả thiết thực. Việc thực hiện Đề án đào tạo cán bộ Hội chủ chốt cấp huyện và cơ sở đã góp phần quan trọng vào kết quả đào tạo, chuẩn hóa cán bộ Hội. Đến cuối năm 2010, đã có trên 300.000 lượt cán bộ Hội được đào tạo nghiệp vụ công tác Hội, kỹ năng lãnh đạo và các chuyên đề khác; 100% Chủ tịch, 97,1% Phó Chủ tịch cấp tỉnh đạt chuẩn chức danh.

- Công tác vận động phụ nữ dân tộc thiểu số, tôn giáo được thực hiện thông qua các hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật, giảm nghèo, xóa mù chữ, tập huấn nâng cao kiến thức… Các cấp Hội chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư nguyện vọng của phụ nữ dân tộc thiểu số, tôn giáo, tích cực tham gia giải quyết khi có vấn đề nảy sinh.

- Công tác phát triển tổ chức, mở rộng tính liên hiệp đạt kết quả bước đầu. Hội đã hỗ trợ thành lập Hội Nữ trí thức Việt Nam; hỗ trợ xúc tiến thành lập Hội Nữ doanh nhân Việt Nam; thí điểm thành lập tổ chức Hội trong các doanh nghiệp tư nhân có đông lao động nữ; phối hợp với Đảng ủy ngoài nước thí điểm hình thức tập hợp phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài.

7. Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế đạt được nhiều kết quả rõ nét

- Hoạt động thông tin, tuyên truyền đối ngoại của Hội được đẩy mạnh thông qua sách báo, tạp chí, trang thông tin điện tử, các hoạt động trao đổi đoàn, tham dự hội thảo trong và ngoài nước…

- Hội tổ chức nhiều hoạt động hợp tác với phụ nữ Lào, Campuchia, Belarusia; đẩy mạnh hợp tác giữa các tỉnh giáp biên. Đăng cai tổ chức thành công Đại hội đồng các tổ chức phụ nữ ASEAN (ACWO) lần thứ 14, Hội nghị đánh giá 15 năm thực hiện Cương lĩnh Bắc Kinh…

- Tại nhiều địa phương, các cấp Hội đã chủ động, tích cực phối hợp tuyên truyền và tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, tham gia phòng chống buôn lậu, phòng chống buôn bán phụ nữ, trẻ em.

- Các cấp Hội đã khai thác và thực hiện hiệu quả các dự án quốc tế, tập trung vào lĩnh vực tài chính vi mô, phòng chống HIV/AIDS, bình đẳng giới, chăm sóc người cao tuổi, phòng chống bạo lực đối với phụ nữ, phòng chống buôn bán người...

III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Đánh giá chung

a. Những mặt được và nguyên nhân

-Các tầng lớp phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò, vị thế trong gia đình và xã hội; tham gia tích cực, đóng góp hiệu quả vào tiến trình phát triển đất nước, góp phần hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội. Phụ nữ đã được thụ hưởng các thành quả từ luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, từ các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đời sống vật chất, tinh thần của đại bộ phận phụ nữ được cải thiện rõ rệt.

-Nghị quyết Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ X đã được các cấp Hội nghiêm túc quán triệt và tổ chức thực hiện đạt được nhiều kết quả quan trọng; các chỉ tiêu chính đã đạt được. Nội dung, phương thức hoạt động tiếp tục đổi mới. Các cấp Hội thực hiện tốt hơn công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động phụ nữ; chức năng đại diện, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thể hiện rõ nét hơn. Hoạt động chăm lo, hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo, xây dựng gia đình ngày càng hiệu quả. Tổ chức Hội được củng cố và phát triển; bộ máy tiếp tục hoàn thiện; chất lượng hoạt động được nâng lên; hội viên tiếp tục tăng về số lượng và chất lượng; trình độ năng lực cán bộ Hội được nâng cao; vận động nguồn lực có bước đột phá. Quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế được duy trì, phát triển.

* Nguyên nhân

- Chủ trương, chính sách về bình đẳng giới được Đảng, Nhà nước quan tâm ban hành và lãnh đạo thực hiện, đã tạo nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi cho phụ nữ; thành quả từ các chương trình kinh tế xã hội của đất nước; sự ủng hộ, hợp tác thiết thực, hiệu quả của các ngành chức năng, đoàn thể, doanh nghiệp và xã hội; sự cố gắng, nỗ lực của bản thân phụ nữ; đội ngũ cán bộ Hội tâm huyết, năng động, sáng tạo.

- Ban Chấp hành Hội LHPN các cấp đoàn kết thống nhất, quyết tâm cao thực hiện đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; sâu sát cơ sở, gắn bó với hội viên, phụ nữ; bám sát và vận dụng sáng tạo Nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức triển khai nhiệm vụ công tác Hội; gắn kết chặt chẽ thực hiện nhiệm vụ công tác Hội với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và các phong trào thi đua lớn của đất nước, của địa phương; qua đó đã nâng cao được hiệu quả công tác Hội và thúc đẩy sự phát triển của phong trào phụ nữ.

b. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:

- Phong trào phụ nữ và hoạt động của Hội LHPNVN chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đổi mới của đất nước, của công tác phụ nữ và nhu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp phụ nữ. Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội chưa đồng đều ở các địa phương; một số nội dung nhiệm vụ chất lượng, hiệu quả chưa cao; việc xây dựng và triển khai thực hiện các đề án còn chậm.

- Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giáo dục phẩm chất đạo đức, công tác tư tưởng còn thiếu chiều sâu, hiệu quả chưa cao. Việc thực hiện chức năng đại diện của Hội còn nhiều bất cập, lúng túng; hiệu quả hoạt động giúp phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế, dạy nghề, tạo việc làm tại một số địa phương còn thấp. Hoạt động hỗ trợ phụ nữ xây dựng gia đình chưa bắt kịp yêu cầu tình hình mới; công tác cán bộ nữ chưa đạt yêu cầu theo tinh thần Nghị quyết 11-NQ/TW của Bộ Chính trị; tính liên hiệp của tổ chức Hội còn hạn chế.

* Nguyên nhân:

- Năng lực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, hoạch định chiến lược của cán bộ Hội còn nhiều hạn chế, bất cập, tư tưởng bao cấp còn nặng. Kiến thức, kỹ năng, phương pháp công tác của một bộ phận cán bộ Hội các cấp còn thiếu và yếu.

- Một số chủ trương công tác chỉ đạo thiếu quyết liệt, thiếu giải pháp cụ thể. Nguồn lực tài chính cho mục tiêu bình đẳng giới và hoạt động của Hội còn hạn hẹp; việc vận động, khai thác nguồn lực chưa chủ động, thiếu chiến lược.

- Việc cụ thể hóa chủ trương, chính sách, luật pháp của Đảng, Nhà nước liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới ở cả cấp trung ương và địa phương còn chậm, chưa đồng bộ; công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc thực hiện chủ trương chính sách liên quan đến phụ nữ chưa được quan tâm đúng mức, thiếu hiệu quả. Một số cấp ủy Đảng, Chính quyền chưa coi trọng chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về công tác phụ nữ.

B. Bài học kinh nghiệm

1. Việc đề ra chủ trương công tác Hội phải bám sát chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị; đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích thiết thân của hội viên, phụ nữ; phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Hội; lựa chọn đúng vấn đề ưu tiên, khâu đột phá.

Trong tổ chức thực hiện phải tạo được sự thống nhất về nhận thức, có kế hoạch cụ thể, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, có quyết tâm cao, giải pháp linh hoạt, sáng tạo, tập trung giải quyết việc khó, giúp đỡ nơi khó khăn, huy động được sức mạnh nội lực của hội viên, phụ nữ và cộng đồng; đồng thời phải được cấp uỷ Đảng quan tâm lãnh đạo, được chính quyền, ban, ngành, đoàn thể tạo điều kiện và phối hợp hiệu quả; được xã hội đồng tình, ủng hộ.

2. Các cấp Hội phải chủ động, sáng tạo thực hiện đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, đổi mới công tác thi đua, khen thưởng để không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hội; tăng cường sâu sát cơ sở, gắn bó mật thiết với hội viên, phụ nữ, phát huy quyền dân chủ, bình đẳng của phụ nữ; khắc phục tư duy bao cấp, chủ động, tích cực trong vận động, khai thác nguồn lực.

3. Nâng cao trình độ, năng lực cán bộ Hội và phụ nữ là yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển của phong trào phụ nữ và xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Các cấp Hội cần thực sự coi trọng và có nhiều giải pháp cụ thể để cán bộ Hội, hội viên, phụ nữ tích cực học tập, không ngừng nâng trình độ, năng lực, góp phần xây dựng xã hội học tập từ mỗi gia đình, cộng đồng.

 

 

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ

NHIỆM KỲ 2012 - 2017

* Dự báo tình hình, khái quát bối cảnh chung, những vấn đề đặt ra đối với phụ nữ và tổ chức Hội LHPN Việt Nam

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT, CÁC CHỈ TIÊU CƠ BẢN VÀ KHÂU ĐỘT PHÁ

1. Mục tiêu tổng quát:

Đoàn kết, vận động các tầng lớp phụ nữ phát huy tiềm năng, nội lực, nâng cao trình độ, năng lực, tích cực tham gia phát triển kinh tế- xã hội, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững. Phấn đấu xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng động sáng tạo, có lối sống văn hóa, có lòng nhân hậu, tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Xây dựng và phát triển tổ chức Hội vững mạnh, thực hiện tốt hơn chức năng đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, góp phần thực hiện các mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội và bình đẳng giới

2. Định hướng nội dung và các chỉ tiêu cơ bản

2.1. Chỉ tiêu phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” gắn với cuộc vận động xây dựng gia đình “5 không 3 sạch”.

- Chỉ tiêu đăng ký phấn đấu

- Chỉ tiêu đạt 3 tiêu chuẩn phong trào thi đua

*/ Đăng ký thực hiện phong trào thi đua đã bao hàm đăng ký thực hiện xây dựng gia đình “5 không 3 sạch”; gia đình đạt tiêu chí “5 không, 3 sạch” của cuộc vận động là gia đình đạt tiêu chí gia đình hạnh phúc của phong trào thi đua.

2.2. Chỉ tiêu về tác động chính sách và giám sát việc thực hiện chính sách theo tinh thần nghị quyết 11-NQ/TW và Luật Bình đẳng giới.

*/ Từng tỉnh/thành, đơn vị đề ra chỉ tiêu cụ thể phù hợp với các vấn đề ưu tiên của địa phương, đơn vị.

2.3. Chỉ tiêu về giáo dục phẩm chất đạo đức của phụ nữ:

*/ Xác định chỉ tiêu theo Đề án Giáo dục phẩm chất đạo đức của phụ nữ giai đoạn 2010-2015

2.4. Chỉ tiêu giúp hộ nghèo xoá đói, giảm nghèo và thoát nghèo

- Chỉ tiêu về hộ nghèo được Hội giúp có địa chỉ; trong đó có chỉ tiêu hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ.

- Chỉ tiêu hộ được giúp thoát nghèo; trong đó có chỉ tiêu hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ được giúp thoát nghèo.

2.5. Chỉ tiêu về dạy nghề, tạo việc làm

*/ Xác định chỉ tiêu theo Đề án Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm giai đoạn 2010-2015.

2.6. Chỉ tiêu về nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội các cấp

- Chỉ tiêu đạt chuẩn chức danh đối với cán bộ chủ chốt các cấp Hội.

- Chỉ tiêu cán bộ từng cấp Hội được bồi dưỡng nâng cao năng lực theo chức danh.

2.7. Chỉ tiêu về củng cố, phát triển tổ chức Hội

- Chỉ tiêu về phát triển tổ chức Hội trong các lĩnh vực, nhóm phụ nữ chưa có tổ chức Hội theo tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

- Chỉ tiêu về phát triển hội viên và phát thẻ hội viên

- Chỉ tiêu về hội phí và xây dựng quỹ Hội

3. Khâu đột phá:

3.1. Tham mưu đề xuất chính sách về bình đẳng giới.

3.2. Thực hiện cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”

3.3. Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội các cấp

II. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN

A. Tổ chức thực hiện phong trào thi đua và các cuộc vận động đảm bảo chất lượng và hiệu quả .

- Triển khai chiều sâu, nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào thi đuaPhụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, lồng ghép với việc thực hiện nội dung các cuộc vận động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, “Xây dựng nông thôn mới”, “Xây dựng xã hội học tập”, “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, “Mái ấm tình thương”.

- Đổi mới công tác thi đua khen thưởng phù hợp với đổi mới nội dung, phương thức họat động để thi đua, khen thưởng thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng hoạt động Hội, tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị.

B. Thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm:

1. Chủ động đề xuất, tham gia xây dựng, giám sát việc thực hiện và phản biện xã hội về luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới.

Mục tiêu:

Thực hiện tốt vai trò đại diện tham gia xây dựng, phản biện và giám sát việc thực hiện luật pháp, chính sách liên quan đến phụ nữ và bình đẳng giới, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ.

Giải pháp:

1. Thực hiện việc rà soát, đánh giá, tìm ra những bất cập, khoảng trống chính sách làm cơ sở đề xuất bổ sung, sửa đổi chính sách tạo điều kiện cho phụ nữ thực hiện tốt vai trò người lao động, người mẹ, người thày đầu tiên của con người.

2. Thực hiện giám sát theo kế hoạch, coi trọng chất lượng, phát hiện vi phạm trong thực hiện hoặc bất cập trong chính sách, kịp thời phản hồi, có biện pháp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ. Nâng cao nhận thức và năng lực để phụ nữ thực hiện quyền dân chủ trực tiếp tham gia đóng góp ý kiến, giám sát, nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

3. Phát triển mô hình hoạt động trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật cho phụ nữ phù hợp với từng cấp Hội. Tổ chức và phát huy hiệu quả hoạt động của cộng tác viên trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật của Hội ở cấp trung ương và tỉnh/thành.

4. Nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với phụ nữ, tập trung vào bình đẳng giới và hôn nhân gia đình. Xây dựng và thực hiện hiệu quả đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của phụ nữ” giai đoạn 2012 - 2017.

5. Chủ động tham gia có hiệu quả trong xây dựng chiến lược tạo nguồn cán bộ nữ nhằm nâng cao tỉ lệ nữ tham gia lãnh đạo/quản lý. Xây dựng và thực hiện đề án phát triển nguồn nhân lực nữ đến năm 2020.

6. Tập trung chỉ đạo và thực hiện công tác nghiên cứu, tạo cơ sở khoa học cho công tác chỉ đạo, định hướng phong trào phụ nữ và tham mưu, đề xuất chính sách.

7. Tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát việc thực hiện luật pháp, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, ngăn ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường.

2. Nâng cao nhận thức, năng lực, trình độ, phát huy giá trị đạo đức của phụ nữ Việt Nam

Mục tiêu

Giữ gìn và phát huy giá trị phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ, năng lực mọi mặt của phụ nữ Việt Nam đáp ứng yêu cầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Giải pháp

1. Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, vận động phụ nữ thực hiện chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của nhà nước, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; sâu sát cơ sở để hiểu rõ nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của phụ nữ và nhân dân, kịp thời phát hiện và phản hồi những bất cập, những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn để có biện pháp giải quyết phù hợp, hiệu quả.

2. Động viên phụ nữ, trẻ em phát huy tinh thần tự học tập nâng cao nhận thức, trình độ văn hoá, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng sống, kiến thức xây dựng gia đình. Thông qua việc phát triển tủ sách cho phụ nữ, đẩy mạnh phong trào đọc và học tập qua sách báo.

Khuyến khích khả năng sáng tạo trong chị em phụ nữ. Hàng năm Trung ương Hội tổ chức “Ngày phụ nữ sáng tạo” vào dịp 20/10, thiết thực kỷ niệm ngày thành lập Hội và ngày “Phụ nữ Việt Nam”.

3. Nghiên cứu xây dựng định hướng về giá trị văn hoá đạo đức của phụ nữ Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH và hội nhập quốc tế trên cơ sở kế thừa, phát huy các giá trị văn hoá đạo đức truyền thống của phụ nữ Việt Nam, của dân tộc Việt Nam, đồng thời bổ sung những giá trị văn hoá đạo đức mới phù hợp và triển khai sâu rộng trong các tầng lớp phụ nữ.

Thực hiện hiệu quả Đề án “Tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước”.

4. Xây dựng và thực hiện chiến lược truyền thông thay đổi hành vi về bình đẳng giới; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và quyền của phụ nữ, nâng cao nhận thức xã hội về bình đẳng giới và tôn trọng các quyền của phụnữ.

5. Cải tiến nội dung tài liệu và cách thức tuyên truyền giáo dục phù hợp, thiết thực, đáp ứng nhu cầu của các nhóm đối tượng phụ nữ. Củng cố, bồi dưỡng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên từ trung ương đến địa phương.

Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông của Hội, mở rộng liên kết với các cơ quan thông tin đại chúng nhằm tăng cường thông tin, tuyên truyền về thành tựu bình đẳng giới, về các gương điển hình trong phong trào phụ nữ và quảng bá hình ảnh, các thành tựu của Hội LHPN các cấp.

Xây dựng chuyên trang, chuyên mục và giới thiệu, nêu gương điển hình phụ nữ trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tăng cường phát hành các tạp chí liên quan đến phụ nữ, khuyến khích các tỉnh có tờ thông tin về phụ nữ và hoạt động Hội.

3. Xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững

Mục tiêu

Phát huy vai trò nòng cốt của phụ nữ trong xây dựng gia đình tạo chuyển biến tích cực, rõ nét trên các tiêu chí: không nghèo đói, không vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội, không bạo lực gia đình, không sinh con thứ 3 trở lên, không để trẻ suy dinh dưỡng và bỏ học, nhà sạch, bếp sạch, ngõ sạch.

Giải pháp

1. Triển khai sâu rộng cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” tới từng chi hội, cộng đồng, gia đình và phụ nữ cả nước; lựa chọn nội dung và lộ trình thực hiện phù hợp với thực tế của từng địa phương, có kế hoạch cụ thể, đảm bảo tính hiệu quả, không hình thức. Hàng năm tổ chức “Ngày hội gia đình hạnh phúc” thiết thực hưởng ứng Ngày gia đình Việt Nam 28/6.

2. Từng cấp Hội chủ động xây dựng kế hoạch 5 năm và kế hoạch hàng năm thực hiện đề án “Giáo dục 5 triệu bà mẹ nuôi, dạy con tốt” giai đoạn 2010 - 2015 và đề án “Hỗ trợ, tạo điều kiện để phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững trong tiến trình công nghiệp hoá và hội nhập” giai đoạn 2011 - 2015.

3. Tổ chức hoặc liên kết hoạt động dịch vụ xã hội phục vụ nhu cầu của phụ nữ, gia đình, xã hội dưới hình thức đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp xã hội, hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Hội, tạo nguồn thu hợp pháp, tăng thêm kinh phí hoạt động và chăm lo cho cán bộ Hội, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cấp Hội, có lộ trình thận trọng, bảo đảm tính hiệu quả và bền vững.

4. Nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ thực hiện các chức năng của gia đình để xây dựng gia đình hạnh phúc và phát triển bền vững.

5. Bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nhân phẩm của phụ nữ Việt Nam trong các giao dịch quốc tế và quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài. Khai thác nguồn lực thử nghiệm và duy trì một số mô hình hỗ trợ phụ nữ trong hôn nhân có yếu tố nước ngoài, hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về, lao động nữ xuất khẩu...

6. Tổ chức tốt hoạt động chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ và phòng chống HIV/AIDS.

4. Hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường.

Mục tiêu:

Tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả công tác hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, cải thiện môi trường sống và giảm nghèo bền vững.

Giải pháp:

1. Đa dạng hóa các nguồn lực và phương thức hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, giảm nghèo phù hợp với nhu cầu, điều kiện cụ thể của địa phương. Tham gia chủ động, phù hợp, hiệu quả vào quá trình triển khai thực hiện các chính sách, đề án, chương trình mục tiêu phát triển kinh tế, dạy nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ giảm nghèo… của Chính phủ và chính quyền địa phương, góp phần thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Tổ chức tốt ngày phụ nữ sáng tạo trong các cấp Hội phụ nữ.

2. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các loại hình hoạt động tín dụng giúp phụ nữ xoá đói giảm nghèo hiệu quả, bền vững. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển tín dụng vi mô của Hội giai đoạn 2012 - 2017, tiến tới thành lập Ngân hàng của phụ nữ.

3. Thực hiện hiệu quả đề án “Hỗ trợ phụ nữ học nghề, tạo việc làm” giai đoạn 2010 - 2015. Chủ động phối hợp cùng các ngành chức năng xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm để cụ thể hoá thực hiện Đề án phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương và từng cấp Hội, đảm bảo tính khả thi, hiệu quả.

4. Thực hiện rà soát, nắm vững địa chỉ từng hộ nghèo do phụ nữ làm chủ hộ theo tiêu chí mới tới từng chi, tổ hội từ năm đầu nhiệm kỳ (2011); có chỉ tiêu, kế hoạch và giải pháp hỗ trợ phù hợp, cụ thể tới từng hộ để tăng tính hiệu quả; hết sức coi trọng việc vận động, khuyến khích tính chủ động, ý chí vươn lên thoát nghèo, khắc phục tâm lý thụ động, trông chờ chính sách hỗ trợ; tạo điều kiện và khuyến khích phụ nữ đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ phụ nữ khác thoát nghèo.

5. Đánh giá mô hình hỗ trợ phụ nữ khởi sự doanh nghiệp và hỗ trợ doanh nhân nữ; rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng hoạt động hỗ trợ phụ nữ khởi sự và phát triển doanh nghiệp phù hợp với điều kiện của từng cấp Hội; phát huy vai trò và sự đóng góp của doanh nhân nữ cho hoạt động Hội và phong trào phụ nữ.

Nghiên cứu mô hình hợp tác xã đã được thành lập tại một số tỉnh/thành Hội để có định hướng cụ thể hỗ trợ phụ nữ có nhu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh theo mô hình hợp tác xã.

6. Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của phụ nữ về bảo vệ môi trường; khuyến khích phụ nữ tham gia quản lý, khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên, đảm bảo cân bằng sinh thái, phát triển sản xuất, kinh doanh theo hướng thân thiện với môi trường.

Tham gia phù hợp vào việc thực hiện các chương trình mục tiêu, đề án về bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Xây dựng mô hình "sản xuất thực phẩm sạch", "tiêu dùng sạch" trong hội viên, phụ nữ.

5. Xây dựng và phát triển tổ chức Hội vững mạnh

Mục tiêu:

Phát triển và nâng cao năng lực tổ chức Hội đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức hoạt động.

Giải pháp:

1. Tiếp tục kiện toàn bộ máy các cấp Hội, trọng tâm là cấp trung ương và tỉnh/thành, hợp lý, hiệu quả:

Cấp trung ương:

Thực hiện kiện toàn bộ máy, cán bộ trên cơ sở phân định rõ tính chất, chức năng, nhiệm vụ của khối các ban tham mưu chiến lược, khối các đơn vị sự nghiệp và khối doanh nghiệp.Xây dựng chiến lược cán bộ phù hợp với từng khối công tác theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu.

Cấp tỉnh/thành:

Kiện toàn bộ máy các ban hợp lý tương ứng với việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm theo chức năng của Hội. Tuỳ theo đặc điểm, điều kiện cụ thể, bộ máy các tỉnh/thành Hội hình thành các ban tham mưu, đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp.

2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp:

- Xây dựng và thực hiện chiến lược cán bộ theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu đối với cấp trung ương và tỉnh/thành. Trung ương Hội tập trung nâng cao chất lượng cán bộ các ban chuyên môn để làm tốt công tác tham mưu chiến lược cho Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch. Coi trọng bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp hoạt động cộng đồng và khả năng vận động thuyết phục đối với cán bộ cấp huyện và cơ sở, đặc biệt chú trọng cấp cơ sở.

Xây dựng và thực hiện đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội các cấp, theo chức danh giai đoạn 2012 - 2017.

- Chủ động, sáng tạo tìm ra phương thức phù hợp để chăm lo cho cán bộ Hội về vật chất, tinh thần; chú trọng cải thiện thu nhập, tạo môi trường làm việc lành mạnh, văn hoá, khoa học trong các cơ quan chuyên trách Hội. Quan tâm đề xuất các chính sách chăm lo cho cán bộ Hội các cấp, đặc biệt cấp cơ sở và cán bộ Chi/tổ Hội.

3. Phát triển hội viên, mở rộng tính liên hiệp của tổ chức Hội

- Nâng cao tính thiết thực, hiệu quả trong hoạt động của Hội LHPN cơ sở đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của hội viên. Chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi/tổ Hội.

- Có phương thức linh hoạt, đa dạng để tập hợp rộng rãi phụ nữ các tầng lớp, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo, vùng miền, độ tuổi khác nhau vào tổ chức Hội. Coi trọng phát triển tổ chức cơ sở Hội trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong các khu công nghiệp, khu chế xuất. Tiếp tục nghiên cứu đề xuất chủ trương thành lập tổ chức Hội trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước một cách phù hợp.

- Thúc đẩy việc thành lập và phát triển các tổ chức thành viên của Hội: Hội Nữ trí thức, Hội Nữ doanh nhân…; có hình thức phù hợp tập hợp phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài.

- Chủ động liên kết, phát triển hợp tác với các tổ chức phi chính phủ Việt Nam có cùng mục đích hoạt động vì sự nghiệp bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của Phụ nữ Việt Nam.

- Có cơ chế để mở rộng và phát huy vai trò, sự tham gia hiệu quả của các uỷ viên ban chấp hành không là cán bộ chuyên trách Hội, đội ngũ cộng tác viên, chuyên gia tư vấn cho cho các lĩnh vực công tác Hội, nhất là ở cấp trung ương và tỉnh/thành.

4. Quán triệt quan điểm, nội dung đổi mới phương thức hoạt động trong chỉ đạo và thực hiện các nhiệm vụ công tác Hội.

- Coi trọng công tác lập kế hoạch. Thực hiện phương thức lập kế hoạch từ dưới lên trên cơ sở định hướng chỉ đạo của Hội cấp trên để đảm bảo tính thiết thực và khả thi, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp Hội địa phương. Chú trọng lựa chọn ưu tiên, xác định rõ trọng tâm, trọng điểm trong việc đề ra chủ trương và xây dựng kế hoạch; tập trung dứt điểm trong chỉ đạo thực hiện.

- Sâu sát cơ sở, coi trọng đúng mức công tác kiểm tra, đánh giá, tổng kết mô hình, rút kinh nghiệm để nhân rộng các mô hình hoạt động hiệu quả. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động hỗ trợ, chăm lo, bảo vệ cho phụ nữ và phát triển phong trào phụ nữ.

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin phù hợp với từng cấp Hội nhằm tăng cường trao đổi thông tin hai chiều kịp thời, chính xác, hiệu quả.

5. Đổi mới công tác thi đua - khen thưởng phù hợp với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, để thi đua - khen thưởng thực sự là động lực nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Hội.

6. Mở rộng và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân

Mục tiêu:

Mở rộng quan hệ, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, hỗ trợ tích cực việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Hội.

Giải pháp

1. Tham gia thực hiện các cam kết quốc tế liên quan tới quyền của phụ nữ và Bình đẳng giới mà Nhà nước Việt Nam và/hoặc Hội đã cam kết.

2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại hai chiều, tăng cường quảng bá hoạt động của Hội, văn hoá và hình ảnh của phụ nữ Việt Nam trên các kênh thông tin đối ngoại, đặc biệt tăng cường việc sử dụng hiệu quả trang Web tiếng Việt và tiếng Anh của Hội để chuyển tải thông tin hai chiều nhằm cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên, phụ nữ về công tác đối ngoại nhân dân.

3. Mở rộng hợp tác quốc tế, đoàn kết hữu nghị với các nước láng giềng, các nước có quan hệ truyền thống, các tổ chức quốc tế và các nước có quan hệ hợp tác vì bình đẳng, phát triển và hoà bình. Củng cố, tăng cường quan hệ song phương, đa phương, tham gia các phong trào đấu tranh của phụ nữ và nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, nhân đạo và bảo vệ môi trường.

4. Xây dựng chiến lược khai thác nguồn lực quốc tế. Thành lập bộ phận phòng khai thác/vận động nguồn chuyên trách ở cấp Trung ương. Cải tiến về cơ chế nhằm quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc tế phục vụ thiết thực cho cácchương trình trọng tâm của Hội.

5. Hợp tác với các cơ quan hữu quan các cấp, các sứ quán, văn phòng đại diện Việt Nam ở nước ngoài và của ngoại giao đoàn tại Việt Nam để góp phần ngăn chặn và xử lý các vụ việc vi phạm quyền của phụ nữ.

6. Vận động, tập hợp phụ nữ Việt Nam sinh sống ở nước ngoài hướng về Tổ quốc, đầu tư, đóng góp tích cực cho công cuộc phát triển đất nước, tham gia vào các hoạt động nhân đạo từ thiện và các hoạt động phát triển trong nước, đóng góp cho phong trào phụ nữ và các hoạt động của Hội LHPN Việt Nam.

 

Chủ đề Đại hội

Đoàn kết, sáng tạo, bình đẳng, phát triển



[1] Tỉ lệ %

[2]  46% số người làm công ăn lương trong các lĩnh vực SXKDnữ

[3] 41,12% chủ cơ sở, doanh nghiệp, 49,42% chủ hộ gia đình sản xuất kinh doanh

[4] % phụ nữ trong ngành giáo dục, y tế

[5] So với tuổi thọ trung bình năm 2007 là 72 tuổi

[6] % phụ nữ tham gia bầu cử

[7] % phụ nữ trong cấp ủy Đảng, Quốc hội, các bộ, ngành

[8] Chiếm 50,2% trong tổng số người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết và 68,4% trong tổng số người từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, biết viết

TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

In trang Gửi tới bạn Đầu trang  Gửi phản hồi

 
Các tin khác:
Các tin tiếp theo ››  
 

"... Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta...

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch uỷ ban hành chính, bí thư chi bộ....

Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng..."

(Trích bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/1966).

Tin mới
 • Phụ nữ Việt Nam hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới năm 2013: “Hãy nghĩ về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm”
 • Tập huấn nghiệp vụ công tác Hội năm 2013
 • Hội LHPN tỉnh Quảng Ngãi với các hoạt động hướng về biển đảo yêu thương
 • Hội LHPN tỉnh Quảng Ngãi tổ chức tập huấn cho cán bộ Hội, tuyên truyền viên về công tác bảo vệ môi trường
 • Hội LHPN xã Hóa Hợp vững mạnh nhờ nâng cao nhận thức cho hội viên
 • Những câu chuyện đầy xúc động của Bác Hồ với phụ nữ
 • Một số lời dạy của Bác Hồ đối với phụ nữ
nu tri thuc
Tuyen truyen pham chat DD PN
Unilever
Nuoi con bang sua me
Diễn đàn góp sức giảm thiểu TNGT
De an 5 trieu ba me
day nghe
dinh duong
Phòng chống buôn bán PN&TE
Trung tam PN

For Advertise

 

Bản quyền thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Địa chỉ:39 Hàng Chuối - Hà Nội - Việt Nam ; Điện thoại:9713436 -  Fax: (84-4) 9713143; Email: ;Website:
http://hoilhpn.org.vn