Đoàn kết - Sáng tạo - Hội nhập - Phát triển
     
Hôm nay, 18/11/2018
Trang chủ 
Giới thiệu 
Tin tức - sự kiện 
Hoạt động Hội 
Phụ nữ khởi nghiệp 
Dư luận xã hội 
Hệ thống văn bản hoạt động Hội 
Đọc và suy ngẫm! 
Tiếng nói của nữ đại biểu 
Phụ nữ trên các lĩnh vực 
Luật pháp, chính sách 
Giới và phát triển 
Gương Phụ nữ 
Phụ nữ tiêu biểu 
Gương sáng đời thường 
Gương cán bộ Hội 
Giải thưởng cho phụ nữ 
Quốc tế 
Gia đình 
Văn hoá - Nghệ thuật 
Hội LHPN các thời kỳ 
Tư liệu 
Thông báo 
Tìm kiếm

Trang t­u lieu
nu tri thuc
van ban xin y kien
MTTQ
Website PN Việt Nam ở nước ngoài
He DHTN

Bạn là người truy cập thứ:
70866450

PHỤ NỮ TIÊU BIỂU
Thầy giáo của nhiều vị vua
Cập nhật: 17/11/2008

Đó là bà Nguyễn Thị Nhược Bích - một trong số những người phụ nữ có tài thơ văn, có công dạy học cho các hoàng tử trong triều nhà Nguyễn.

Lịch sử đã ghi chép, các bà vợ chính của Vua Tự Đức phần lớn là con gái các đại thần có thế lực nhất trong triều. Nhiều bà Nhất nhị giai phi được phong chức là nhờ chức tước của các vị thân sinh chứ không phải do tài sắc mà có. Có thể tìm được cung tần mỹ nữ đẹp nhưng tìm được người tài trí thông minh thì không phải chuyện dễ. Nguyễn Thị Nhược Bích là một trường hợp đặc biệt như vậy.

Bà Nguyễn Thị Nhược Bích sinh năm 1830, quê làng An Phước, tỉnh Ninh Thuận (trước đây là Phan Rang), con thứ tư của Nguyễn Nhược Sơn (có tên gọi là Nguyễn Nhược San). Nguyễn Nhược Sơn là một nhân tài hiếm hoi của vùng Chiêm Thành, Ninh Thuận. Ông có tính tình khẳng khái, không chịu ràng buộc trong khuôn phép, gặp việc gì đáng làm là làm không cần suy nghĩ và cũng không sợ hậu quả xấu đến với mình. Bởi thế, trong quãng đời làm quan, ông không ít lần bị bãi chức. Cũng nhờ tài trí thông minh và sự phóng khoáng của người cha mà bà Nguyễn Thị Nhược Bích đã được ăn học và bộc lộ tài năng của mình. Bà đi theo cha làm quan nhiều nơi nhưng bất cứ ở nơi nào bà cũng được mọi người ca ngợi.

Năm 1848, bà được tiến cử vào cung cho Vua Tự Đức. Trong một buổi ngâm vịnh, Vua Tự Đức đề thơ Tào Mai (Hoa mai sớm nở) và bài hoạ của bà được vua khen tặng cho 20 nén bạc, đồng thời cho sung chức Thượng Nghi Viên Sư. Năm 1868, bà được Vua Tự Đức giao cho việc dạy học cho các hoàng tử - sau này là các vị vua Đồng Khánh, Kiến Phúc. Trong cung đình với tài thơ văn của mình, bà đã dạy cho các hoàng tử những kiến thức về văn học, hán nôm, phép tắc lễ nghi nơi cung cấm... Vì thế, người ta gọi bà là Tiệp Dư Phu Tử. Với công lao đóng góp của bà cho triều đình, nhà Nguyễn đã lần lượt phong cho bà các chức: Tài nhân (1850), Mỹ nhân (1860),rồi chức Quý nhân.

Tư duy của bà theo khuynh hướng chính thống nên bà đã phải chịu đựng sự chuyên chế của hai quyền thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết trong thời kỳ “Tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng mà thay đến ông ông vua).

Năm 1885, Kinh thành thất thủ, Vua Hàm Nghi hạ Chiếu Cần vương, kêu gọi quan dân chống Pháp, bà phải Hộ giá Tam cung (thân mẫu của hai bà Chánh phi và Thứ phi của Vua Tự Đức) chạy theo vua ra Quảng Trị. Đến Quảng Trị mới được vài hôm, Tam cung không chịu được cảnh khổ cực nên đã quay trở lại Khiêm lăng chịu sự quản chế của người Pháp.

Trong thời gian bà ở bên cạnh Vua Tự Đức, bà đã theo dõi và nắm được tất cả những sự việc xảy ra trong Cung đình Huế từ sau ngày Vua Tự Đức băng hà (19/7/1883) cho đến ngày Kinh thành Huế thất thủ (5/7/1885). Với sự thông minh và hiểu biết của mình, bà đã viết nên tác phẩm Hạnh Thục Ca, gồm 1018 câu lục bát, chữ nôm. Tác phẩm nói về việc thực dân Pháp sang xâm lược nước ta và ca ngợi công lao của Vua Tự Đức; việc lộng quyền của hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết trong viếc phế lập các vua: Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc, Hàm Nghi.

Lời thơ trong Hạnh Thục Ca có một âm điệu nhẹ nhàng, phảng phất một nỗi buồn man mác. Mặc dù nhìn nhận sự việc trong triều đình với nhãn quan của một bà hoàng trong cung cấm nhưng Hạnh Thục Ca vẫn được lịch sử Việt Nam đánh giá là nguồn sử liệu có ý nghĩa lịch sử và văn học quý giá. Không phải là một người thông minh, có tài thơ văn, có lòng yêu nước thì không ai có thể viết được tác phẩm ấy. Từ sau ngày Vua Tự Đức mất, việc biên soạn Sắc dụ của Lưỡng Tôn Cung (mẹ Vua Tự Đức và bà Trang Ý, vợ chính của Vua Tự Đức) đều do một tay bà soạn thảo. Đến đời Vua Thành Thái (1892) bà được phong chức Tam Phi Lễ Tần. Bà mất vào năm Duy Tân thứ ba (1909), thọ 79 tuổi.

Dương Thuỷ - Bảo tàng PNVN - (Theo Từ điển nhân vật lịch sử, Chuyện các bà trong cung Nguyễn)

In trang Gửi tới bạn Đầu trang  Gửi phản hồi

 
Các tin khác:
Các tin tiếp theo ››  
 

"... Từ đầu thế kỷ thứ nhất, Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc cứu nước cho đến ngày nay, mỗi khi nước nhà có nguy nan thì phụ nữ ta đều hăng hái đứng lên, góp phần xứng đáng của mình vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy thế hệ anh hùng của nước ta...

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hàng vạn phụ nữ đã trở thành cán bộ chuyên môn các ngành và cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp, chủ tịch uỷ ban hành chính, bí thư chi bộ....

Như thế là từ xưa đến nay, từ Nam đến Bắc, từ trẻ đến già, phụ nữ Việt Nam thật là anh hùng..."

(Trích bài nói chuyện của Hồ Chủ Tịch nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội LHPN Việt Nam 20/10/1966).

Tin mới
 • Tạo thương hiệu bánh chuối phồng Tư Bông từ '4 không'
 • 'Không bảo vệ được trẻ em là thất bại lớn của ngành giáo dục'
 • Tăng cường sự hiện diện của phụ nữ trong các vị trí lãnh đạo ở Singapore
 • Những tấm gương phụ nữ nghị lực, trách nhiệm với cộng đồng, xã hội
Hotline
Đồng hành cùng PNBC
Cuộc thi ý tưởng truyền thông ATTP
ATGT
HVPN
TTPN
TYM

For Advertise

 

Bản quyền thuộc về Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Địa chỉ:39 Hàng Chuối - Hà Nội - Việt Nam ; Điện thoại:9713436 -  Fax: (84-4) 9713143; Email: ;Website:
http://hoilhpn.org.vn

machining cnc machining services precision machining metal stamping sheet metal fabrication cnc milling CNC turning